CÁC ĐỨC GIÁO HOÀNG VÀ NGÀY THẾ GIỚI TRUYỀN GIÁO
WHĐ (08/10/2026) – Từ lời kêu gọi của Đức Piô XII trong thời chiến cho đến những sứ điệp hằng năm của các Đức Giáo hoàng Phaolô VI, Gioan Phaolô II, Bênêđictô XVI và Phanxicô (trong những năm đầu, các văn bản này thường do Đức Hồng y Tổng trưởng hoặc Tổng Thư ký của Bộ Truyền bá Đức tin soạn thảo), Chúa nhật Thế giới Truyền giáo, được thiết lập vào năm 1926, đã trở thành một cơ hội để nhắc nhở toàn thể Giáo hội về ơn gọi truyền giáo của mình.
Trong tuyển tập các đoạn trích được tập hợp dưới đây, lấy từ các sứ điệp của nhiều vị Giáo hoàng, sứ mạng truyền giáo luôn gắn liền với những mối quan tâm cấp thiết của từng thời đại: hòa bình, tự do tôn giáo và những thách đố của thời hiện đại.
Đức Piô XII, ngày 19 tháng 10 năm 1940: Hòa bình như sứ mạng của Giáo hội
“Cầu nguyện là vũ khí chinh phục trái tim Thiên Chúa, khiến Người động lòng thương xót và nhân hậu; đó là lễ vật dâng lên từ môi miệng của anh chị em, từ lòng yêu mến dành cho những sứ giả của Đức Kitô, cho những con chiên bé nhỏ lạc đàn, cho những người khốn khổ đang phải chịu gánh nặng và nỗi thống khổ quá lớn do cơn bão tố của thời đại chúng ta gây ra (…) Đây chính là vương quốc bình an: bình an trong tâm hồn của chúng ta với Thiên Chúa, bình an giữa anh chị em qua việc thể hiện tình thương yêu nhau, bình an giữa các dân tộc và quốc gia nhờ sự hòa giải và hòa hợp trong trật tự. Nhân loại ngày nay càng xa rời sự bình an ấy bao nhiêu; và ý thức về những giá trị tự nhiên và siêu nhiên chung của chúng ta càng có nguy cơ nhường chỗ cho những tình cảm đối nghịch trong nhiều tâm hồn bao nhiêu, thì sự dấn thân hữu hiệu và đầy khích lệ của anh chị em cho lý tưởng truyền giáo Công giáo càng trở nên cao quý và đáng ngưỡng mộ bấy nhiêu. Bởi vì hòa bình trên thế giới cũng là một sứ mạng của Giáo hội; trong sự thanh bình của trật tự nhân loại, Giáo hội tìm thấy sự sống của mình, việc chinh phục và ơn cứu độ các linh hồn, việc loan truyền sự thiện hảo của đức tin, chiến thắng sự dữ, và cuối cùng dẫn tới nền hòa bình vĩnh cửu không thể lay chuyển.”
https://www.vatican.va/content/pius-xii/it/speeches/1940/documents/hf_p-xii_spe_19401019_we-are.html
Đức Phaolô VI, ngày 25 tháng 5 năm 1969: Công đồng xác lập mối tương quan giữa tự do tôn giáo và bổn phận tông đồ
“Sự hiện hữu của tổ chức trung ương và chính thức này trong Giáo hội (các “Hội Giáo hoàng Truyền giáo”) là câu trả lời cho một khó khăn hiện đang được nêu lên tại một số khu vực, và có nguy cơ khiến hoạt động truyền giáo rơi vào tình trạng đình trệ: đó là việc nhấn mạnh đến lời công bố của Công đồng về tự do tôn giáo, như thể điều này cổ võ một thái độ hòa giải bất khả tri và cho phép thái độ dửng dưng đối với chân lý tôn giáo cũng như đối với mệnh lệnh truyền giáo mà chương trình cứu độ gắn liền vào đó. Một số người nói rằng nỗ lực truyền giáo không còn cần thiết nữa. Sự tồn tại của các Hội Giáo hoàng được thiết lập đặc biệt nhằm thúc đẩy và duy trì công cuộc truyền giáo ấy ngày nay cũng như trước đây đã bác bỏ lý thuyết này; bởi lẽ tự do tôn giáo, như Công đồng đã công bố, là nhằm bảo đảm cho tôn giáo được tự do thoát khỏi sự can thiệp quá đáng từ bất kỳ quyền lực hoàn toàn thế tục nào, cũng như khỏi sự loại trừ sai lầm về mặt xã hội và chính trị trong lĩnh vực tôn giáo; điều đó không nhằm làm suy yếu bổn phận tông đồ của chúng ta, mà đúng hơn là tạo ra những điều kiện dân sự để hoạt động truyền giáo có thể được thực thi với sự tôn trọng thích đáng đối với tự do lương tâm, trong khi rao giảng sứ điệp cứu độ duy nhất chân thật đến từ tôn giáo. Đây là một lập trường căn bản mang tính truyền thống của Giáo hội, nhưng đã được Công đồng canh tân và làm sáng tỏ.”
Đức Gioan Phaolô II, ngày 11 tháng 6 năm 2000: Sứ mạng không phụ thuộc vào sức loài người
“Toàn bộ sứ mạng của Giáo hội, và cách riêng, sứ mạng ad gentes, cần đến những tông đồ sẵn sàng kiên trì cho đến cùng, trung thành với sứ mạng đã đón nhận, theo cùng con đường Đức Kitô đã đi, ‘con đường nghèo khó và vâng phục, phục vụ và hy sinh chính mình cho đến chết…’ (Sắc lệnh Ad gentes, 5).
Ước gì các chứng nhân đức tin mà chúng ta đã tưởng nhớ trở nên mẫu gương và nguồn cảm hứng cho tất cả các Kitô hữu, để việc loan báo Đức Kitô được nhận thức là trách nhiệm của mọi Kitô hữu. Trong nỗ lực này, người Kitô hữu không đơn độc. Đúng là không có sự tương xứng nào giữa sức loài người và mức độ vĩ đại của sứ mạng. Kinh nghiệm thông thường và chân thực nhất là cảm thấy mình bất xứng trước một tác vụ như thế. Nhưng cũng đúng là ‘khả năng của chúng ta đến từ Thiên Chúa, Đấng đã làm cho chúng ta đủ khả năng trở thành những thừa tác viên của một giao ước mới’ (2 Cr 3:5b-6a).
Chúa không bỏ rơi những ai Người kêu gọi phục vụ Người. ‘Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, … Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế’ (Mt 28:18-20). Sự hiện diện liên tục của Chúa trong Hội thánh của Người, đặc biệt qua Lời Chúa và các Bí tích, là bảo chứng cho hiệu quả của sứ mạng Giáo hội.
Ngày nay, sứ mạng này được thực hiện qua những người nam và người nữ đã cảm nghiệm ơn cứu độ trong chính sự mỏng giòn và yếu đuối của mình, và làm chứng về điều đó trước anh chị em mình, ý thức rằng tất cả chúng ta đều được kêu gọi đạt tới cùng một sự viên mãn của sự sống (…) Hai ngàn năm sau khi sứ mạng được bắt đầu, vẫn còn những vùng địa lý, văn hóa, con người và xã hội bao la nơi Đức Kitô và Tin mừng của Người chưa được thấm nhập. Làm sao chúng ta có thể không lắng nghe tiếng kêu gọi xuất phát từ thực trạng này? Những ai đã cảm nghiệm niềm vui được gặp gỡ Đức Kitô thì không thể giữ niềm vui ấy khép kín trong lòng; họ phải lan tỏa niềm vui ấy.”
Đức Bênêđictô XVI, ngày 29 tháng 4 năm 2006: Hoa trái của sứ mạng không nằm trong việc tìm kiếm lợi ích riêng
“Vào đêm trước cuộc Khổ nạn, Đức Giêsu đã để lại cho các môn đệ đang quy tụ trong Phòng Tiệc Ly mừng lễ Vượt Qua là ‘điều răn mới của yêu thương – mandatum novum’: ‘Điều Thầy truyền dạy cho anh em là hãy yêu thương nhau’ (Ga 15:17). Tình yêu huynh đệ mà Chúa đòi hỏi nơi những ‘bạn hữu’ của Người bắt nguồn từ tình yêu phụ tử của Thiên Chúa. Thánh Tông đồ Gioan nhận xét: ‘Phàm ai yêu thương thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa’ (1 Ga 4:7).
Vì thế, để yêu thương theo cách của Thiên Chúa, con người phải sống trong Người và nhờ Người: Thiên Chúa là ‘ngôi nhà’ đầu tiên của con người, và chỉ những ai cư ngụ trong Người mới cháy lên ngọn lửa đức ái thần linh có khả năng ‘làm thế gian bừng cháy’. Đó chẳng phải là sứ mạng của Giáo hội trong mọi thời đại sao? Vì thế, không khó để hiểu rằng lòng nhiệt thành truyền giáo đích thực, là cam kết hàng đầu của cộng đoàn Hội thánh, gắn liền với lòng trung thành với tình yêu Thiên Chúa. Điều này đúng đối với mỗi Kitô hữu, mỗi cộng đoàn địa phương, các Giáo hội địa phương và toàn thể Dân Thiên Chúa.
Chính từ ý thức về sứ mạng chung này mà các môn đệ của Đức Kitô kín múc được lòng sẵn sàng quảng đại thực hiện những công cuộc thăng tiến con người và tinh thần, qua đó làm chứng, như Đức Gioan Phaolô II, vị Giáo hoàng khả kính, đã viết trong Thông điệp Redemptoris missio, rằng ‘linh hồn của mọi hoạt động truyền giáo là tình yêu, vốn đã là và vẫn là động lực thúc đẩy của sứ mạng, đồng thời cũng là “tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá điều gì nên làm hay không nên làm, điều gì cần thay đổi hoặc không cần thay đổi. Đó là nguyên tắc phải hướng dẫn mọi hành động, và là cùng đích mà hành động ấy phải hướng tới. Khi chúng ta hành động vì đức ái, hoặc được đức ái thúc đẩy, thì không gì là bất xứng và mọi sự đều tốt đẹp”’ (số 60).
Vậy, trở thành những nhà truyền giáo có nghĩa là yêu mến Thiên Chúa bằng trọn vẹn con người mình, đến mức hiến dâng mạng sống cho Người, nếu cần. Biết bao linh mục, tu sĩ nam nữ và giáo dân, ngay cả trong thời đại chúng ta, đã làm chứng cho tình yêu trọn vẹn của họ dành cho Người qua sự tử đạo!
Trở thành những nhà truyền giáo có nghĩa là cúi xuống, như người Samari nhân hậu, trước những nhu cầu của mọi người, đặc biệt là những người nghèo khổ và túng thiếu nhất, bởi vì những ai yêu thương bằng trái tim của Đức Kitô thì không tìm kiếm lợi ích riêng tư, nhưng chỉ tìm kiếm vinh quang của Chúa Cha và thiện ích của tha nhân. Đó chính là bí quyết mang lại hoa trái tông đồ của hoạt động truyền giáo vượt qua mọi biên giới và các nền văn hóa, đến với các dân tộc và lan rộng đến tận cùng trái đất.”
Đức Phanxicô, ngày 25 tháng 1 năm 2024: Tái khám phá chiều kích cánh chung và Thánh Thể của các Kitô hữu tiên khởi
“Chúng ta biết rằng nơi các Kitô hữu tiên khởi, lòng nhiệt thành truyền giáo mang một chiều kích cánh chung mạnh mẽ. Họ cảm nhận tính cấp bách của việc loan báo Tin mừng. Ngày nay cũng vậy, điều quan trọng là phải duy trì viễn tượng này, bởi vì nó giúp chúng ta loan báo Tin mừng với niềm vui của những người biết rằng ‘Chúa đã đến gần’ và với niềm hy vọng của những người đang tiến bước về đích điểm, nơi tất cả chúng ta sẽ ở cùng Đức Kitô trong tiệc cưới của Người, trong Nước Thiên Chúa. Trong khi thế gian bày ra trước mắt chúng ta những ‘yến tiệc’ khác nhau của chủ nghĩa tiêu thụ, của sự tiện nghi ích kỷ, việc tích lũy của cải và cá nhân chủ nghĩa, thì Tin mừng mời gọi mọi người đến dự yến tiệc thần linh, được đặc trưng bởi niềm vui, sự chia sẻ, công lý và tình huynh đệ trong sự hiệp thông với Thiên Chúa và với tha nhân.
Sự sống viên mãn này, vốn là ân ban của Đức Kitô, đã được nếm trải trước ngay từ bây giờ trong bàn tiệc Thánh Thể mà Giáo hội cử hành theo lệnh truyền của Chúa để tưởng nhớ Người. Lời mời gọi đến dự yến tiệc cánh chung mà chúng ta mang đến cho mọi người trong sứ mạng loan báo Tin mừng gắn liền với lời mời gọi đến bàn tiệc Thánh Thể, nơi Chúa nuôi dưỡng chúng ta bằng lời của Người và bằng Mình và Máu Người.
Như Đức Bênêđictô XVI đã dạy: “Mỗi cử hành Thánh Thể đều thực hiện cách bí tích cuộc quy tụ cánh chung của Dân Thiên Chúa. Đối với chúng ta, bàn tiệc Thánh Thể thực sự là sự nếm hưởng trước bàn tiệc chung cuộc đã được các ngôn sứ tiên báo (x. Is 25,6-9) và được Tân ước mô tả là ‘tiệc cưới Con Chiên’ (Kh 19,7.9), sẽ được cử hành trong niềm vui hiệp thông của các thánh” (Sacramentum Caritatis, số 31).
Do đó, tất cả chúng ta được kêu gọi cảm nghiệm mỗi Thánh lễ cách sâu sắc hơn, trong mọi chiều kích của Thánh lễ, và đặc biệt là chiều kích cánh chung và truyền giáo.”
Đức Lêô XIV, ngày 25 tháng 1 năm 2026: Hiệp nhất như một điều kiện của sứ mạng
“Trách nhiệm truyền giáo hàng đầu của Giáo hội là canh tân và duy trì sự hiệp nhất thiêng liêng và huynh đệ giữa các thành viên của mình. Trong nhiều hoàn cảnh, chúng ta gặp phải những xung đột, sự phân cực, những hiểu lầm và tình trạng thiếu tin tưởng lẫn nhau. Khi những điều này xảy ra ngay cả trong các cộng đoàn của chúng ta, nó làm suy yếu chứng tá của chúng ta. Sứ mạng loan báo Tin mừng mà Đức Kitô trao phó cho các môn đệ trước hết đòi hỏi những tâm hồn được hòa giải và khao khát sự hiệp thông. Vì thế, điều quan trọng là phải đẩy mạnh những nỗ lực đại kết với tất cả các Giáo hội Kitô giáo (…)
Sự hiệp nhất truyền giáo không được hiểu là sự đồng nhất, mà đúng hơn là sự hội tụ của các đặc sủng khác nhau cho cùng một mục đích, đó là làm cho tình yêu của Đức Kitô trở nên hữu hình và mời gọi mọi người đến gặp gỡ Ngài. Việc loan báo Tin mừng được thực hiện khi các cộng đoàn địa phương hợp tác với nhau, và khi những khác biệt về văn hóa, linh đạo và phụng vụ được diễn tả cách trọn vẹn và hài hòa trong cùng một đức tin. Vì thế, tôi khuyến khích tất cả các tổ chức trong Giáo hội củng cố ý thức về sự hiệp thông truyền giáo trong Giáo hội, đồng thời phát triển những phương thức hợp tác sáng tạo và cụ thể với nhau và cho sứ mạng (…)
Nếu sự hiệp nhất là điều kiện của sứ mạng, thì yêu thương chính là bản chất của sứ mạng. Tin mừng mà chúng ta được sai đi loan báo cho thế giới không phải là một lý tưởng trừu tượng; đó là Tin mừng về tình yêu trung tín của Thiên Chúa, một tình yêu đã trở nên xác phàm nơi dung mạo và cuộc đời của Đức Giêsu Kitô.”
Chuyển ngữ: Tri Khoan
Nguồn tin: https://hdgmvietnam.com


Tin cùng chuyên mục:
CÁC ĐỨC GIÁO HOÀNG VÀ NGÀY THẾ GIỚI TRUYỀN GIÁO
ĐÃ BAO LÂU RỒI, BẠN KHÔNG NHÌN ÁNH SÁNG MẶT TRỜI?
Tiếp kiến chung 7/10: Giáo hội xây dựng thành đô trần thế trước hết bằng sự thánh thiện và tình yêu huynh đệ
Chuỗi Mân Côi và Thánh Đa Minh